Cảm nhận về bài thơ Nhàn

Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Nhàn

Bài làm

Văn học Việt Nam từ xưa đến nay không chỉ đặc sắc bởi bút pháp tả thực độc đáo mà còn mang đầy ý nghĩa nhân văn qua cái hồn người trong từng câu chữ. Bức tranh thiên nhiên tuy giản dị nhưng lại là nơi gửi gắm bao tâm ý của thi nhân. Trong đó, một trong số những bài thơ tiêu biểu đó là Nhàn của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm – nhà thơ lớn của dân tộc với những đóng góp giá trị cho nền văn học nước nhà.

Bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là tấm gương phản chiếu con người và quan niệm của nhà thơ về cách sống ngay thẳng chính trực khi ở chốn quan trường, cách sống giản dị gần gũi với thiên nhiên. Bài thơ cũng thể hiện được nét điển hình của ngòi bút chính nghĩa phê phán những điều trái ngược với đạo lý trong xã hội. Kết cấu đề thực luận kết tiêu biểu của thơ đương đại cũng được áp dụng nhuần nhuyễn trong bài thơ. Mở đầu là hai câu đề gợi ta tinh thần thưởng thức vẻ đẹp mộc mạc giản dị nơi làng quê non nước:

Một mai một cuốc, một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

cam nhan ve bai tho nhan - Cảm nhận về bài thơ Nhàn

Cảm nhận về bài thơ Nhàn

Mở đầu bài thơ là lời thơ nhẹ nhàng êm ái nơi thôn quê dân dã yên bình. Ta dường như có thể nhìn thấy dáng vẻ ung dung tự tại của một thi sĩ đang hòa mình vào đời sống của người nông dân bình thường. Tâm trạng hưởng thụ đời được nhà thơ tâm đắc đến “thơ thẩn”. Từng cái cuốc, cái cần câu vừa là thú vui sống gắn bó hàng ngày vừa là người bạn tâm giao của nhà thơ nơi làng quê yên bình. Tuy cuộc sống ấy không đầy đủ về vật chất nhưng lại vô vàn giá trị về mặt tinh thần. Một người thi sĩ làm bạn từ lâu với cây bút nghiên mực dường như chẳng thể làm những công việc nặng nhọc. Thế nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tự mình lao động, tay cầm bút đã chai sần qua những ngày cầm cuốc lao động nuôi sống bản thân. Đó không phải là đời sống khổ cực mà ngược lại, lao động làm cho con người cảm thấy thư thái và hài lòng vì những thành quả tự mình làm ra. Nhà thơ tự khi nào đã trở thành một lão nông cần mẫn, giản dị trong đời sống nhưng cũng hết sức “sang” trong cách hưởng thụ cuộc đời. Từ đó ông thêm trân trọng cuộc đời mà mấy ai có được ấy. Tuổi già của nhà thơ càng thêm ý nghĩa khi có những thú vui tốt đẹp, không hề có lo âu toan tính.

>> Xem thêm:  Cảm nhận về Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao

Hai câu thực trên là tuyên ngôn về quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong câu thơ trên tác giả sử dụng phép đối: dại – khôn, nơi vắng vẻ – chốn lao xao làm nổi bật sự đối lập giữa cuộc sống bình dị của tác giả với mục tiêu cuộc sống của những người thường khác. Ông tự nhận mình dại khi tìm nơi vắng vẻ để sống, nơi vật chất còn thiếu thốn, nơi con người còn chân chất quanh năm làm bạn với thiên nhiên, lao động chăm chỉ kiếm sống. Ông khen “người khôn” khi biết tìm đến nơi quan trường tấp nập đủ đầy nhưng cũng không thiếu bon chen đấu đá. Hai câu thơ như một lời trào phúng . Người “khôn” thực tình là người “dại” khi rời bỏ cuộc đời bình yên hạnh phúc mà tìm đến nơi nhẫn tâm chốn quan trường. Điều đáng buồn là có biết bao nhiêu người bị vinh hoa phú quý che mờ mắt, tự rời bỏ hạnh phúc để đánh đổi lấy cái phú quý vô tri vô giác. Hai câu thơ giúp ta hiểu hơn về cách sống ở đời: nơi tâm hồn ta thanh thản mới là nơi đáng sống. Thói đời tham lam dại dột đã bị nhấn chìm bởi phong thái ung dung giản dị mà rất mực thanh cao của kẻ sĩ.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

>> Xem thêm:  Suy nghĩ của em về tuổi hai mươi

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Giản dị nhưng không thiếu thốn, bình thường nhưng không tầm thường. Nguyễn Bỉnh Khiêm không cần những thứ vật chất hào nhoáng có được từ mồ hôi xương máu của người khác, ông chỉ muốn gắn bó với thiên nhiên, hưởng thụ thành quả của chính mình: măng trúc, giá, hồ sen, ao. Đó là món quà mà thiên nhiên ban tặng và cũng là thành quả mà ông dành cả tâm huyết lao động mà làm nên. Hưởng thụ điều ấy ông thấy thanh thản trong tâm hồn khi sống mà không phải làm những điều trái với lương tâm. Đó cũng là nguyên nhân mà ông rời xa chốn quan trường: vinh hoa phú quý mà chốn quan trường hưởng thụ đều là của nhân dân cực khổ lầm than ngày ngày làm ra. Hơn thế nữa, để chạy theo vinh hoa phú quý người ta phải luồn cúi tính toán chứ không hề có ngày bình yên. Ông không cần những thứ vô nghĩa ấy mà chỉ cần quanh năm được hưởng trọn thành quả của chính mình. Cuộc sống an nhàn tuy đạm bạc nhưng cũng thực thanh cao.

Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

Nhà thơ đã mượn cái say của rượu để được “chiêm bao”. Qua chữ “nhìn xem” ta như nhìn thấy trước mắt nhà thơ đang chỉ cho chúng ta thấy, thức tỉnh chúng ta rằng phú quý chỉ như một giấc mộng hư ảo, khi ta thức dậy thì nó cũng nhanh chóng tan biến đi. Đó là lời nhắn nhủ từ nhà thơ, trân trọng những niềm vui giản dị xung quanh mới là điều tốt đẹp nhất đối với mỗi con người. Qua đó ta phần nào cảm nhận được một phong cách sống ý nghĩa, một thông điệp cuộc sống qua ngàn đời.

>> Xem thêm:  Kể về những đổi mới ở địa phương em

Dù có “nhàn” thế nào đi chăng nữa thì trong lòng nhà thơ vẫn đau đáu nỗi lòng thương nước thương dân. Ta cảm thấy khâm phục tình yêu quê hương đất nước, yêu thương đồng bào dân tộc sâu sắc ấy cũng như nhân cách thanh cao mà mộc mạc của thi nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đồng thời, ta học được bài học ý nghĩa trong cuộc sống: hãy sống sao cho thanh thản, hãy trân trọng những niềm vui dù là nhỏ bé xung quanh chúng ta vì đồng tiền và danh lợi cũng chỉ là một thứ hư ảo mà thôi.

Thảo Trân