Phân tích hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ Tây Tiến và liên hệ với hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

7225 1494911290059 1017 - Phân tích hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ Tây Tiến và liên hệ với hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Phân tích hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ Tây Tiến và liên hệ với hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

Bài làm

Cổ nhân có câu: “Thi trung hữu họa”. Văn học khác với các loại hình nghệ thuật khác khi chỉ vài con chữ giản đơn trên trang giấy nó có thể hiện hình thành phong cảnh tuyệt mĩ, thành giai nhân tuyệt đẹp, nó có thể ngân lên thành khúc ca hào hùng hay bi thương. Bởi thế, chỉ có vài câu thơ thôi nhưng bức tranh về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc đã hiện ra sắc nét trước mắt người đọc qua bàn tay của Quang Dũng trong “Tây Tiến”:

  • “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
  • Có thấy thấy hồn lau nẻo bến bờ
  • Có nhớ dáng người trên độc mộ
  • Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

“Tây Tiến” được xem là tác phẩm đỉnh cao của đời thơ Quang Dũng. Bài thơ được viết năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, trong nỗi nhớ nồng nàn với Tây Tiến – đơn vị chiến đầu cũ – cũng là nỗi nhớ núi rừng rải về miền Tây Tổ quốc có vẻ tuyệt kì mà Quang Dũng một thời gắn bó. Không khí lãng mạn rất riêng của những ngày đầu kháng chiến, tư thế dấn thân đầy kiêu hùng, quả cảm của người con Hà Nội hào hoa, đa tình đã được thể hiện đậm nét ở từng câu thơ chưa đầy chất nhạc, chất họa, vừa trang trọng, cổ kính, vừa tươi tắn, trẻ trung.

Chuyển tiếp hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, hiểm trở ở những câu thơ trên, nhịp sống rộn ràng trong đêm lửa trại, những câu thơ tiếp theo là hình ảnh thiên nhiên miền sơn cước tuyệt đẹp:

  • “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy”

Một từ “chiều sương” thôi mà gợi được cả thời gian và không gian. Cổ thi mỗi khi nhắc đến chiều, đến sương là một nỗi buồn thiên cổ, là nỗi hoài cổ ngàn năm gợi về:

  • “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
  • Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
  • Kẻ chốn trang đài, người lữ thứ,
  • Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?”
>> Xem thêm:  Kể lại một kỉ niệm đáng nhớ về một người thân yêu của em

(“Chiều hôm nhớ nhà” – Bà Huyện Thanh Quan)

Nhưng câu thơ của Quang Dũng lại cho ta một cảm giác rất nhẹ nhàng, bình yên. Một từ “ấy” vô danh nhưng lại hữu ý. Từ “ấy” vô danh vì nó gợi nhắc đến một thời gian nào đó, đôi khi cả chủ thể cũng không thể xác định được: là “Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn” (Xuân Diệu), là “Từ ấy”, “Mười lăm năm ấy” trong hồi ức của Tố Hữu. Nhưng đó cùng là ngày không thể lẫn vào đâu trong muôn vàn buổi chiều vô danh khác trong đời: buổi chiều mang tên kỉ niệm, mang theo nỗi nhớ. Nhà thơ chỉ mất một ít rõ ràng nhưng nhận lại bao la những ý nghĩa.

Thiên nhiên còn là đường nét của một bông lau đơn sơ, phất phơ như đượm hồn của ngàn xưa:

  • “Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”

Không phải là “cây lau”, “ngọn lau” hay “phận lau” như TS Chu Văn Sơn dùng trong bài tùy bút: “Phận hoa bên lề” mà là “hồn lau”. Cái “hồn” xưa mà Bà Huyện Thanh Quan đã viết: “hồn thu thảo” làm cho câu thơ không chủ đích tả mà gợi, không chủ ý vẽ mà khơi. Không thấy được hình dáng của ngọn lau nhưng có thể cảm nhận được linh hồn riêng của đại ngàn Tây Bắc. Cảnh theo lời thơ mà tan ra. Một chút rõ ràng mất đi mà thêm rất nhiều thơ mộng.

Đến hai câu thơ sau:

  • “Có nhớ dáng người trên độc mộc
  • Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Câu thơ làm hiện ra bóng dáng duyên dáng, uyển chuyển của người con gái Thái giữa cảnh thiên nhiên mộng mơ, yên bình. Hình ảnh “hoa” không chỉ gợi về hình ảnh xứ sở Tây Bắc ngàn hoa mà còn là hình ảnh của cái đẹp. “Hoa đong đưa” là đang làm duyên với gió, với nước khi đã nở trọn đời hoa để buông mình? Hay đó là hình ảnh ẩn dụ của cái đẹp, của người con gái đang tình tứ mà kín đáo làm duyên. Câu thơ có cái duyên của cảnh, duyên dáng của người và phải chăng còn là đôi mắt tình tứ của người ngắm cảnh nữa?

>> Xem thêm:  Nghị luận về lợi ích và tác hại của facebook

Như vậy, chỉ bằng một vài nét chấm phá, phác họa về sông nước, cảnh vật, bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hiện lên thật đẹp. Cũng hình ảnh sông nước ấy, trong con mắt của Hàn Mặc Tử đó là:

  • “Gió theo lối gió mây đường mây
  • Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
  • (“Đây thôn Vĩ Dạ”)

Hai câu đầu là hình ảnh của một thực tại phiêu tán. Tất cả dường như đang bỏ đi: gió bay đi, mây trôi đi, dòng nước cũng buồn bã ra đi… dòng nước cũng buồn bã ra đi… Người ta thường nói gió đi đâu mây theo đó, gió mây làm một. Nhưng đến đây, mây gió cũng chia lìa đôi ngả, báo trước một cái gì thật ngang trái, trở trêu. Để rồi lại đến “dòng nước buồn thiu”. Là vì đã mang sẵn trong mình một nỗi buồn hay nỗi buồn li tán của mây gió đã bỏ buồn vào lòng sông? Động từ “lay”, tự nó cũng không vui không buồn mà sao đặt trong câu thơ lại càng làm cảnh thêm hiu hắt, người thêm quạnh hiu? Có phải có một chữ “lay” buồn như thế từ bông sậy của dân ca đã xuôi theo ngọn gió thời gian mà đậu vào thơ Tử:

  • “Ai về giồng dứa qua truông
  • Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em?”

Để rồi nhà thơ phải tìm cho mình một nơi níu giữ, một chốn nương náu mà cất lên tiếng gọi:

  • “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
  • Có chở trăng về kịp tối nay?”

Hàn Mặc Tử được biết đến là thi sĩ của trăng. Trăng không chỉ đơn giản là một hình ảnh, một hình tượng nghệ thuật mà đó còn là sự hóa thân, là sự bộc lộ của chính tâm hồn Tử. Và trăng giờ đây như một bám víu duy nhất, một tri âm, một cứu tinh, một cứu chuộc! Cảnh hiện lên bỗng huyền ảo, lung linh mà cũng thật khó để nắm bắt. Chữ “kịp” trong câu thơ cuối như một lời hân hoan, hi vọng để víu lấy nhưng dường như mang theo nỗi lắng lo và tuyệt vọng nhiều hơn: liệu có “về kịp tối nay?” Nếu trăng không về “kịp” thì kẻ bị số phận bỏ rơi bên rìa cuộc đời này, bỏ dưới trời sâu này sẽ hoàn toàn lâm vào tuyệt vọng, vĩnh viễn đau thương. Như vậy, chỉ bằng một nét đơn sơ nhưng cảnh sông nước cô quạnh, buồn vắng, có chút huyền ảo đã đủ rợn ngợp trong người đọc. Với Hàn Mặc Tử, cảnh không bao giờ đơn thuần chỉ là nó mà là tâm trạng, là tâm sự, là cả cuộc đời để người trú ẩn, người níu giữ. Vì thế, thiên nhiên ở đây cũng được nhìn nhận ở phương diện khác.

>> Xem thêm:  Kể về một ngày hội mà em đã được xem

Cùng là cảnh thiên nhiên sông nước: trong thơ Quang Dũng yên bình, thơ mộng bao nhiêu thì trong thơ Hàn Mặc Tử nó lại hiu quạnh, huyền ảo bấy nhiêu. Cái tình trong “Tây Tiến” là sự đắm say, là tình si thì trong “Đây thôn Vĩ Dạ” lại là nỗi buồn chia li, ám ảnh lạc loài và sự cô đơn. Thiên nhiên trong thơ Quang Dũng vẫn đơn thuần là cảnh sắc còn thiên nhiên với Hàn Mặc Tử là người, là một chủ thể tách biệt. Vì thế, bút pháp khắc họa cũng có sự khác nhau giữa bút pháp chấm phá, gợi tả và tượng trưng siêu thực. Người ta nói: “thơ là sự thể hiện rõ nhất của con người”. Không cần nói anh là ai, chỉ cần qua những dòng thơ anh kí gửi, người đọc có thể nhận ra được chân dung, nắm bắt được tâm trạng và đồng cảm với nghệ sĩ.

Trong “Nghĩ về nghề”, Chế Lan Viên đã từng viết: “thơ hay như người con gái đẹp, ở đâu, đi đâu cũng lấy được chồng”. Bài thơ “Tây Tiến” đã không bị chết trong “cô đơn”. Hơn nửa thế kỉ trôi qua, đọc lại, vẫn không thấy cũ, đọc lại vẫn nguyên ý tình.